Bỏ qua để đến Nội dung

Văn bia Tháp tổ Khai Sơn 

 

Bia Đá tôn trí tại tháp 

Nguyên văn

珠林寺心印永承和尚碑銘並字

我越自沐法雨之波灡,踏聖蹤而踐實代代不乏其人而續佛慧命之心燈;紹法真身之智種以接後來、以教四衆如今之時和尚是其一者哉。

和尚廣治省海淩俯多儀村人,俗姓阮氏生于成泰十年乙未。幼而聰穎及至負薪投春京祥雲寺淨眼大師剃髮,蒙賜心印之法名、永承之道號。尋而本師示寂和尚稟隨天興慧法大師受業而立登具于慈孝寺戒壇。繼而續學歷過四載於丁卯年又向平定十塔彌陀寺福慧大師參請。保大癸酉之間輯回春京掉錫于陽春山建立草庵以便修持。不或之後五載生聖緣國寺住持。明年作清化戒壇第三尊證。當此之時其庵蒙領扁額敕賜珠林寺,既而連任妙諦國寺僧綱及佛學莅所之慈曇寺住持。未幾耳順更回本寺講學參禪越數載又得請為壬辰報國寺戒壇教授和尚。庚子之年重修其寺大雄寶殿廣建禪堂。是時歲已古希而連為順化慈孝及廣南永嘉戒壇作羯磨和尚。至于丙辰年正月元宵日之前無病坐化春秋八十二。

和尚一生辛苦習學進具之後而猶遊方遍參禪德既而授徒不倦其成器者不少而有名如天和大師、天恩大師者不下數人。又長于漁山之清亮不愧我國僧會之傳承。每出應付道場燦然響媚,更尤間於國語詩律題材豐裕言辭掉越。超素聞和尚之名而靡所見,今其徒雉石建塔以備師資之禮,工竣詣超乞辭。超非以筆墨之荒疏銘之曰:

屹屹梅嶺

石汗振振

鐘靈毓秀

挺出其人

負薪慕佛

志向出塵

戒持戰懍

珠布四民

陽春棹錫

唯道是珍

此幻此化

是實是真

老耄捨報

安養棲神

潛光一代

七衆霑恩

佛曆二千五百四十四歲次庚辰年六月十五日

善逝子釋智超拜撰


Phiên âm

Châu Lâm tự Tâm Ấn – Vĩnh Thừa

Hòa thượng bi minh tịnh tự

Ngã Việt tự mộc pháp vũ chi ba lan, đạp thánh tung nhi tiễn thực đại đại bất phạp kỳ nhơn nhi tục Phật huệ mạng chi tâm đăng; thiệu pháp chân thân chi trí chủng dĩ tiếp hậu lai, dĩ giáo tứ chúng như kim chi thời hòa thượng thị kỳ nhất giả tai.

Hòa thượng Quảng Trị tỉnh, Hải Lăng phủ, Đa Nghi thôn nhơn, tục tánh Nguyễn thị, sanh vu Thành Thái thập niên - Ất mùi. Ấu nhi thông dĩnh nãi chí phụ tân đầu Xuân Kinh Tường Vân tự Tịnh Nhãn đai sư thế phát, mông tứ Tâm Ấn chi pháp danh, Vĩnh Thừa chi đạo hiệu. Tầm nhi bổn sư thị tịch, hòa thượng bẩm tùy Thiên Hưng Huệ Pháp đại sư thụ nghiệp nhi lập đăng cụ vu Từ Hiếu tự giới đàn. Kế nhi tục học lịch quá tứ tải ư Đinh mão niên hựu hướng Bình Định Thập Tháp Di Đà tự Phước Huệ đại sư tham thỉnh. Bảo Đại quí dậu chi gian tập hồi Xuân Kinh trạo tích vu Dương Xuân kiến lập thảo am dĩ tiện tu trì. Bất hoặc chi hậu, ngũ tải sanh Thánh Duyên quốc tự trú trì. Minh niên tác Thanh Hóa giới đàn đệ tam tôn chứng. Đương thử chi thời, kỳ am mông lãnh biển ngạch “Sắc tứ Châu Lâm tự”, ký nhi liên nhậm Diệu Đế quốc tự tăng cang cập Phật học lị sở chi Từ Đàm tự trú trì. Vị kỷ thuận nhĩ hồi bổn tự giảng học tham thiền việt số tải hựu đắc thỉnh vi nhâm thìn Báo Quốc tự giới đàn giáo thọ hòa thượng. Canh tý chi niên trùng tu hỳ tự đại hùng bảo điện quảng kiến thiền đường. Thị thời tuế dĩ cổ hi nhi liên vi Thuận Hóa Từ Hiếu cập Quảng Nam Vĩnh Gia giới đàn tác yết ma hòa thượng. Chí vu Bính thìn niên chánh nguyệt nguyên tiêu nhật chi tiền vô bệnh tọa hóa, xuân thu bát thập nhị.

Hòa thượng nhất sanh tân khổ tập học tấn cụ chi hậu nhi do du phương biến tham thiền đức, nhi thụ đồ bất quyện, kỳ thành khí giả bất thiểu nhi hữu danh như Thiên Hòa đại sư, Thiên Ân đại sư giả bất hạ số nhơn. Hựu trưởng vu Ngư sơn chi thanh lương bất quí ngã quốc tăng hội chi truyền thừa. Mỗi xuất ứng phó đạo tràng sáng nhiên hưởng mi, cánh vưu gian ư quốc ngữ thi luật đề tài phong dụ ngôn từ trác việt. Siêu tố văn hòa thượng chi danh nhi phỉ sở kiến, kim kỳ đồ trĩ thạch kiến tháp dĩ bổ sư tư chi lễ, công thoan nghệ Siêu khất từ. Siêu phi dĩ bút mặc chi hoang sơ minh chi viết:

Ngật ngật Mai lãnh

Thạch Hãn trấn trấn

Chung linh dục tú

Đĩnh xuất kỳ nhơn

Phụ tân mộ Phật

Chí hướng xuất trần

Giới trì chiến lẫm

Châu bố tứ dân

Dương xuân trác tích

Duy đạo thị trân

Lão mạo xả thân

An dưỡng thê thần

Tiềm quang nhất đại

Thất chúng triêm ân

Phật lịch nhị thiên ngũ bách tứ thập tứ, tuế thứ canh thìn niên lục nguyệt thập ngũ nhật.

Thiện Thệ tử Thích Trí Siêu bái soạn.


Dịch nghĩa

Văn bia của hòa thượng Tâm Ấn – Vĩnh Thừa[1]

Nước Việt Nam ta từ khi tắm gội những con sóng lớn của mưa pháp, tiếp bước dấu chân của bậc đại thánh để tu tập, đời đời không thiếu người tiếp nối ngọn đèn tâm của tuệ mạng Phật, gieo trồng hạt giống trí của đấng Phật đà để dẫn dắt hậu sinh, giáo hóa bốn chúng. Hòa thượng Tâm Ấn Vĩnh Thừa ngày nay chính là một người trong số đó.

Hòa thượng họ Nguyễn, người thôn Đa Nghi, phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, sinh năm Ất mùi (1895) niên hiệu Thành Thái thứ mười. Thưở ấu thời hòa thượng thông minh trác tuyệt, đến tuổi trưởng thành vào chùa Tường Vân ở kinh đô Phú Xuân xuất gia tu học với đại sư Tịnh Nhãn được ban pháp danh Tâm Ấn, đạo hiệu Vĩnh Thừa. Chẳng bao lâu bổn sư thị tịch, hòa thượng nương đại sư Huệ Pháp chùa Thiên Hưng tu học, thọ cụ túc ở giới đàn chùa Từ Hiếu, rồi vẫn tiếp tục việc học trong suốt bốn năm. Năm Đinh Mão (1927) hòa thượng lại vào cầu học với đại sư Phước Huệ chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định. Giữa năm Quý Dậu (1933) niên hiệu Bảo Đại, hòa thượng trở về Phú Xuân, dừng bước ở núi Dương Xuân, kiến lập thảo am, để tiện việc tu trì. Năm 45 tuổi, trú trì Quốc tự Thánh Duyên. Năm sau Hòa thượng lại làm Đệ Tam Tôn Chứng giới đàn Thanh Hóa. Cũng vào năm đó, thảo am của Ngài được vua ban tấm biển “Sắc Tứ Châu Lâm Tự”, lại kiêm nhiệm Tăng Cang Quốc tự Diệu Đế và trú trì chùa Ấn Tôn (Từ Đàm) cơ sở Phật học vào thời đó. Gần tuổi 60,  hòa thượng trở về chùa cũ, mở lớp giảng dạy, tham thiền; ít năm sau lại được mời làm Giáo Thọ hòa thượng giới đàn Báo Quốc vào năm Nhâm Thìn (1952). Đến năm Canh Tý (1960), hòa thượng trùng tu Đại Hùng Bảo Điện và tái thiết thiền đường chùa Châu Lâm. Ở tuổi đã 70, nhưng hòa thượng vẫn liên tiếp được thỉnh làm Yết Ma hòa thượng ở giới đàn chùa Từ Hiếu – Huế, giới đàn Vĩnh Gia ở Quảng Nam. Tháng Giêng năm Bính Thìn (1976), vào ngày trước tết Nguyên Tiêu, hòa thượng an nhiên thị tịch, hưởng thọ tám mươi hai tuổi.

Hòa thượng một đời tu học gian khổ, sau khi thọ Cụ túc giới mà còn du phương tham vấn thiền đức học hỏi khắp nơi. Học xong lại dạy dỗ chúng tăng, không hề mệt mỏi. Trong số học trò thành tài có mấy ai  như đại sư Thiên Hòa (Đạo Quang), đại sư Thiên Ân. Hòa thượng sống một đời thanh cao ở chốn Ngư Sơn Phạn Bối thật không hổ danh là bậc truyền thừa của Tăng Già đất Việt! Mỗi khi ngài xuất hiện thì đạo trường xán lạn, ngát tỏa âm vang. Ngoài ra hòa thượng còn là bậc kỳ tài trong thi ca Quốc ngữ với đề tài phong phú, ngôn từ trác việt.

Siêu tôi vốn nghe danh hòa thượng mà chưa hề diện kiến. Nay đệ tử của Ngài lập tháp để đáp lễ ân sư. Tháp vừa xây xong, tìm đến Siêu tôi, thỉnh làm bài từ. Siêu tôi chẳng quản bút mực hoang sơ, xin làm bài minh rằng:

Cao vút non Mai

Thạch Hãn sông dài

Khí thiêng hội tụ

Un đúc nhân tài

Tuổi xuân mộ Phật

Chí hướng xuất trần

Giới hạnh nghiêm cẩn

Ngọc ban chúng dân

Dựng nghiệp Dương Xuân

Chỉ đạo là quý

Này huyễn này hóa

Là thực là chân

Già xả báo thân

Lạc quốc dưỡng thần

Thật bậc chân nhân

Bảy chúng hàm ân.

Phật lịch 2544, ngày 15 tháng 6 năm Canh Thìn (2000)

Thiện Thệ tử Thích Trí Siêu bái soạn


[1] Do điều kiện chủ quan chưa tìm hiểu sâu về nguyên quán, sanh quán của hòa thượng nên phần văn bia này có nhiều điểm khác với tiểu sử của Ngài. Để có được sử liệu chính xác xin tham cứu “Châu Lâm đường thượng thi thư” Thích Thiện Quang, nhà xuất bản Thuận Hóa – Huế 2018.